Đồ đồng đồ đá tìm hiểu văn hóa đồ đồng cổ
Đồ đồng ở Việt nam có từ cách đây từ trước công nguyên, đồ đồng cổ có giá trị tâm linh cao, được dùng trong các chùa, đền thờ lớn, lâu đời. Ngày nay đồ đồng được ứng dụng nhiều trong cuộc sống như: đồ đồng dùng trong công nghệ, trang trí nội thất, đồ lưu niệm ý nghĩa…
Thời đại đồ đồng là một thời kỳ trong sự phát triển của nền văn minh khi phần lớn công việc luyện kim tiên tiến (ít nhất là trong sử dụng có hệ thống và rộng rãi) bao gồm các kỹ thuật để nấu chảy đồng và thiếc từ các loại quặng lộ thiên sẵn có trong tự nhiên, và sau đó phối trộn các kim loại này với nhau để tạo ra đồng đỏ (đồng thiếc). Thời đại đồ đồng tạo thành một phần của hệ thống ba thời đạicho các xã hội tiền sử. Trong hệ thống đó, nó diễn ra sau thời đại đồ đá mới trong một số khu vực trên thế giới. Tại nhiều khu vực củachâu Phi hạ Sahara thì thời đại đồ đá mới được kế tiếp là thời đại đồ sắt mà không có thời đại đồ đồng.
Thời đại đồ đồng tại Cận Đông được chia ra làm 3 thời kỳ chính (niên đại là xấp xỉ):
- EBA – Thời đại đồ đồng sớm (khoảng 3500 -2000 TCN)
- MBA Thời đại đồ đồng giữa (khoảng 2000-1600 TCN)
- LBA Thời đại đồ đồng muộn (khoảng 1600-1200 TCN)
Mỗi thời kỳ chính lại có thể chia ra thành các thể loại nhỏ hơn như EB I, EB II, MB IIa v.v.
Nghề luyện kim đã phát triển đầu tiên tại Tiểu Á, ngày nay là Thổ Nhĩ Kỳ. Các dãy núi trên cao nguyên Anatolia có các trầm tích giàu đồng và thiếc. Đồng cũng được khai thác tạiCyprus, sa mạc Negev, Iran và khu vực xung quanh vịnh Ba Tư. Đồng thông thường bị trộn lẫn với asen, do nhu cầu tăng lên đối với thiếc nên đã tạo ra kết quả là sự hình thành của các hành trình buôn bán đường xa ở trong và ra ngoài Anatolia. Đồng tinh khiết cũng được nhập khẩu bằng các hành trình đường biển tới đại vương quốc Mesopotamia.
Thời đại đồ đồng sớm cho thấy có sự gia tăng của tiến trình đô thị hóa thành các dạng nhà nước thành bang có tổ chức và sự phát minh ra chữ viết (thời kỳ Uruk trong thiên niên kỷ 5 TCN). Trong thời đại đồ đồng giữa, sự di chuyển của con người đã thay đổi phần nào hình thái chính trị của khu vực Cận Đông (người Amorite, người Hittite, người Khurrite, người Hyksos và có thể là cả người Israelite). Thời đại đồ đồng cuối được đặc trưng bằng các vương quốc hùng mạnh cạnh tranh lẫn nhau cùng các nước chư hầu của chúng (Assyria, Babylonia, Hittite, Mitanni). Hàng loạt các tiếp xúc đã được thực hiện với nền văn hóa Aegea (Ahhiyawa, Alashiya) trong đó buôn bán đồng đóng vai trò quan trọng. Thời kỳ này kết thúc bằng sự sụp đổ lớn, ảnh hưởng mạnh tới cả phần lớn khu vực Đông Địa Trung Hải và Trung Đông.
Sắt đã bắt đầu được gia công vào cuối thời đại đồ đồng tại Anatolia. Sự chuyển tiếp thành thời đại đồ sắt vào khoảng năm 1200 TCN chủ yếu là do các thay đổi chính trị tại Cận Đông hơn là do các phát triển trong kỹ thuật luyện kim.

Đồ đồng tâm linh

Đồ đồng trang trí

đồ đồng lưu niệm

Đồ đồng thờ cúng

Qùa tặng đại tướng cài áo
ĐỒ ĐỒNG VÀ ỨNG DỤNG TRONG CUỘC SỐNG
Dưới đây là giai đoạn của thời đại đồ đồng tại Cận Đông:
| Thời đại đồ đồng (3300–1200 TCN) | Thời đại đồ đồng sớm (3300–2200 TCN) | Thời đại đồ đồng sớm I | 3300–3000 TCN |
| Thời đại đồ đồng sớm II | 3000–2700 TCN | ||
| Thời đại đồ đồng sớm III | 2700–2200 TCN | ||
| Thời đại đồ đồng giữa (2200–1550 TCN) | Thời đại đồ đồng giữa I | 2200–2000 TCN | |
| Thời đại đồ đồng giữa II A | 2000–1750 TCN | ||
| Thời đại đồ đồng giữa II B | 1750–1650 TCN | ||
| Thời đại đồ đồng giữa II C | 1650–1550 TCN | ||
| Thời đại đồ đồng muộn (1550–1200 TCN) | Thời đại đồ đồng muộn I | 1550–1400 TCN | |
| Thời đại đồ đồng muộn II A | 1400–1300 TCN | ||
| Thời đại đồ đồng muộn II B | 1300–1200 TCN |
